CHÙA LINH XỨNG - VĂN BIA LÝ THƯỜNG KIỆT

CHÙA LINH XỨNG - VĂN BIA LÝ THƯỜNG KIỆT

Chùa do Lý Thường Kiệt xây từ đời Lý Nhân Tông, trên núi Ngưỡng Sơn phía bắc sông Lèn, cách cầu đò Lèn về phía Tây chừng 2km. Dấu vết chùa hiện nay không còn. Chỉ còn lại văn bia, do sư Hải Chiếu soạn, và đặt ở đền thờ Lý Thường Kiệt. Văn bia chép tình hình xây chùa, do công của Lý Thường Kiệt:

 

“Việc có Lý Công. Theo dấu người cổ,

Coi quận, dân yên. Đánh đâu được đó.

Tiếng động Chiêm Thành. Danh lừng Đông độ.

Dựng chùa chốn này. Quy sùng Phật tổ.

(Văn bia chùa Linh Xứng – Hoàng Xuân Hãn dịch)

 

Núi Ngưỡng Sơn xưa thuộc làng Ngọ Xá, tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc. Nay là xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung (Thanh Hóa), cách cầu Đò Lèn 2 kilômét về phía tây. Sở dĩ gọi Ngưỡng Sơn, vì đứng từ núi Kim Sơn cách đó chừng 10 kilômét từ phía tây nhìn về thì núi có hình người đàn bà nằm ngửa. Chùa Linh Xứng ngày nay không còn nữa. Di tích còn sót lại chỉ một tấm bia bằng đá, cao 1,1 mét, rộng 0,7 mét, di vật quý giá của văn hóa Lý - Trần, do Thông Thiền Hải Chiếu Đại sư Pháp Bảo soạn. Lý Doãn Từ, Thông phán quận Thanh Hóa viết chữ và viết đầu đề bằng chữ triện trên trán bia. Sư Tăng Huệ Thống Thường Trung khắc và hoàn thành ngày 3 tháng 3 năm Bính Ngọ, năm thứ bảy niên hiệu Dụê Vũ (1126). Chữ khắc hai mặt bia. Văn bia ghi lại hành trạng, công đức của Lý Thường Kiệt và quá trình xây dựng chùa. Ngay sát nền chùa xưa là đền thờ Lý Thường Kiệt, được nhân dân dựng lên và quanh năm tế lễ để nhớ công ơn vị  anh  hùng dân tộc. Tấm bia - di vật quý giá nói trên hiện nay được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Theo văn bia thì chùa xây dựng rất đồ sộ, công phu, hội tụ nhiều bàn tay tài hoa và kiệt tác. Trong chùa có tượng Phật Như Lai sơn son thếp vàng ngồi cao trên tòa sen, nổi trên mặt nước. Chung quanh mặt tường vẽ 16 vị La Hán với những biến tướng muôn hình vạn trạng. Cảnh chùa lộng lẫy, là nơi hội tụ khách thập phương, gần núi, gần sông, quần tụ dân cư sầm uất. Vì vậy, không chỉ nhân dân quanh vùng đến dâng hương vãng cảnh mà còn có các sứ Chiêm Thành, Chân Lạp... cũng đến với tấm lòng ngưỡng vọng.

Thật đáng tiếc, ngôi chùa đồ sộ lộng lẫy ấy đã không còn nữa. Khách hành hương chiêm bái giờ đây bồi hồi xúc động trước một cảnh trí, một vùng quê, một mảnh đất đã từng in dấu chân bao danh tướng, đại sư, bao danh nhân, thi sĩ, bao anh kiệt hiền nhân.

                                                                             Bùi Liên Nam                                

(1), (2) Văn bia chùa Linh Xứng do Pháp Bảo Đại sư soạn.

 

 

VĂN BIA CHÙA LINH XỨNG NÚI NGƯỠNG SƠN

Phật tổ soi tỏ cái thực mà chỉ thẳng chữ tâm; thánh nhân thích ứng theo thời mà thông suốt muôn biến. "Muôn" là sự phân tán của "một"; "một" là cội nguồn của "muôn". Đến như các bậc hiển thánh thỉnh thoảng ra đời, khuôn phép thay nhau dấy lên. Nhóm cái đã  phân tán để đưa nó về cội gốc; ôm cái "một" để thâu tóm cái "muôn". Tạc nên hình tượng để biểu thị "sự thâu tóm"; dựng nên đền tháp để có "sự hướng về". Hết tâm sức để kinh doanh; bỏ châu ngọc mà không tiếc. Cho nên đường thì đặt ranh giới bằng giây vàng hiên thì phô sự quí giá của rèm châu. Tuy rằng hết đỗi trang nghiêm; mà vẫn không hề xa xỉ. Bởi vì mục đich là ở sự tìm cái "nhất" và cái "chân", chứ đâu phải chỉ cốt làm cho tấm lòng và con mắt chói lòa mà khoe khoang sự tráng lệ vậy.

Từ khi có Phật giáo tới nay đã hơn hai nghìn năm, mà sự thờ phụng ngày càng thêm mới. Hễ có cảnh đẹp núi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dựng chùa chiền, nhưng không có các bậc vương công đại nhân giúp đỡ thì làm sao mà nên được.

Chùa Linh-xứng ở núi Ngưỡng-sơn tức là ngôi chùa do quan Thái úy xây dựng vậy. Lúc quan Thái úy còn trẻ được chọn vào cấm đình, hầu vua Thái Tông, chưa đầy một kỷ, tiếng khen đã nức nở ở nội đình. Đến khi vua Thánh Tông nối ngôi trị nước, Thái úy hết lòng giúp đỡ. Ra sức siêng năng, nổi bật trong hàng tả hữu, được thăng chức Kiểm hiệu  thái bảo. Khi nước Phật Thệ khinh nhờn phép tắc, không chịu vào chầu, vương sư rầm rộ tiến đánh. Thái úy thao lược hơn đời, vào cung vua mà nhận mưu chước, chế quân luật mà đuổi đánh  quân thù. Hoàn vương không đường chạy trốn, đành tự bó tay mà chịu cắt tai. Bắt được y rồi, Thái úy mới rút quân về. Vua nghĩ công lớn ấy, bèn ban khen và thăng chức.

Giữa khoảng niên hiệu Thần Vũ (1069-1072), được phong chức Thái úy đồng trung thư môn hạ chương sự, giúp đỡ việc chính sự của nước nhà, muôn dân được nhờ ơn rất nhiều vậy.

Đầu niên hiệu Thái Ninh (1072-1075), đức kim thượng Minh hiếu hoàng đế lên ngôi, Thái úy lấy tư cách là Y Doãn. Hoắc Quang được nhà vua giáo phó nhiếp chính và gửi gắm công việc xã tắc. Bỗng chốc quân biên giới nhà Tống dòm ngó nước ta. Thái úy nắm sẵn mưu chước của triều đình, thống lĩnh quân sĩ, diệt ba châu, bốn trại dễ dàng như bẻ cành gỗ mục. Chẳng bao lâu [quân giặc] ồ ạt kéo đến sông Như Nguyệt, thề trả thù cho ba châu, Thái úy lại cầm quân chống giặc. Thái úy lấy tư cách biện sĩ mà phân tích cho giặc, không vất vả mà bọn đầu sỏ rã rời nhụt chí. Thế là giữ được an ninh cho xã tắc. Vua mến Thái úy dũng cảm nên càng thêm sủng kính. Đầu năm Anh Vũ Chiêu Thắng (1076-1084), Thái úy được phong làm em nuôi vua, trông nom mọi việc quân ở các châu thuộc trấn Thanh Hóa, quận Cửu Chân, châu Ái và phong cho thái ấp một vạn hộ ở Việt Thường.

Thái úy trong thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị. Những việc đổi dời phong tục, nào có quản công. Làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hòa, cho nên dân được nhờ là vậy. Khoan hòa giúp đỡ quần chúng, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng oai vũ để trừ bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự đẹp tốt đều ở đấy cả. Giúp chính sự cho ba triều, dẹp yên lọan ngoài biên tái, chỉ khoảng vài năm mà tám phương yên lặng, công thật lớn lao.

Thái úy tuy thân vướng việc đời, mà lòng vẫn hướng về đạo Phật. Có lẽ vì nhà vua và mẫu hậu tôn sùng giáo lý nhà Phật đó chăng? Cho nên Thái úy vâng theo ý chỉ của đức vua và mẫu hậu mà nâng đỡ Phật pháp vậy. Nhân lúc rảnh việc triều đình, ông thầy của thái hậu là Trưởng lão Sùng Tín bỗng từ kinh sư đến quận này, mở mang giáo hóa, khơi thông mọi tập lục khác lạ, răn điều ác, chỉ điều thiện, khác nào một trận mưa rào thấm nhuần cây cỏ, không ai là không hớn hở vui tươi Thế là Thái úy cùng trưởng lão ngược dòng lên cửa Phấn Đại, dừng thuyền ở chân núi Long Tỵ. Xem đá trắng mà ngọc châu lấp lánh; dòm thác nguồn mà xiêm áo lung linh. Do đó Thái úy khuyên dựng đoản đình ở ngay chân núi, xây tường lớn ở chốn non cao. Trưởng lão hỏi rằng:

- Núi này đẹp, nhưng đã mở mang mất rồi, còn có nơi nào thanh u, nổi tiếng đẹp đẽ hơn, mà xưa kia đã từng nghe nói, thì xin dẫn tới xem.

Thái úy trả lời:

- Trưởng lão thực là một người có thể thực hành được đạo Phật, thỏa được tính sáng, mở được lòng mê, bằng cách tùy theo cái căn tính lanh lợi hay ngu dần mà chi cho phép "đốn" hay phép "tiệm".

Rồi đó, Thái úy lại dẫn những người tùy tùng, dời thuyền di về phía Tây, qua dòng sông trong Nam Thạc, đến ấp nổi danh Đại Lý. Dạo bước bến đò, đưa mắt xem xét, thấp thoáng thấy ở trong quận, cách quận lỵ độ chừng năm dặm có hòn núi trơ vơ gọi là Ngưỡng Sơn. Chân núi quanh co bên bờ nước, đâu phải núi đồi dĩ, hỗ, lại không vách đứng tường cao. Bóng lam ngùn ngụt, sắc thúy đậm đà, quanh quất làng xa, bao quanh điện Bắc. Gò ao khắp núi, hình thế lạ kỳ. Trước đây có một ẩn sĩ riêng xây am trong ấy và di duyên hóa mọi phương, tuy đã mở mang, nhưng tịnh giới chưa được nghiêm nhặt. Thái úy lại dẫn bộ thuộc theo lối tắt trèo lên, chỉ thấy cây cổ rợp trời, ráng mây vương vất. Thái úy bồi hồi dạo bước, trên dưới ngắm trông. Thế là vì tấm lòng ưa thích sự vui vẻ, thương xót quần sinh mà ý nghĩ kinh doanh trỗi dậy. Thái úy bảo rằng:

- Cái mà kẻ trí người nhân yêu thích là núi, là sông; cái mà thế đại lưu truyền là danh, là đạo. Nếu mở núi mà làm cho "đạo" và "danh" rạng rỡ thì không đáng quý hay sao?

Thế là phát cỏ rậm, bạt đá to, thày bói nhằm phương, thợ hay dâng kiểu; quan thuộc góp tiền, sĩ dân đổ tới. Kém sức thì bào, thì gọt; sành nghề thì dựng thì xây. Chùa Phật thênh thang ở giữa; phòng chay rộng rãi hai bên. Trang nghiêm chính giữa thì Ngũ trí Như lai sắc vàng rực rỡ, ngồi trên tòa sen trồi lên mặt nước Quanh tường thì thêu vẽ dung nghi đẹp đẽ của cực quả mười phương cùng với mọi hình tướng biến hóa, muôn hình vạn tượng, không thể kể xiết. Phía sau xây ngôi tháp báu gọi là tháp Chiêu Ân, chín tầng chót vót, giăng mắc rèm the, cửa mở bốn bên, bao quanh con tiện. Gió rung chuông bạc; hòa nhịp chim rừng. Tháp báu nắng soi; long lanh vàng diệp. Quanh thềm lan can; đầy sân hoa cỏ. Trước cửa chính, trong treo chuông vàng, một tiếng chày kinh; ngân vang khắp chốn. Thức tỉnh kẻ u mê; phá tan niềm hôn tục. Khuyên bảo việc lành; răn đe điều ác. Thẳng ngay phía trước một đường hai ngả, khơi mương và dẫn nước chảy xuôi. Bên giòng nước dựng xây đình nhỏ, san sát thuyền bè qua lại, dừng chèo tạm nghỉ. Hoặc Hoàn-bang, Chân-lạp xa tới mà quỳ gối ngắm xem; hoặc nước lạ phương xa qui phục mà cuối đầu dập trán. Cái nhà nát của kẻ trưởng giả quê mùa mà hóa thành Vương Xá lớn.

Ôi! Cõi tịnh thờ Phật có thể gọi là hoàn thành vậy. Nhân ngày tốt, mở tiệc khánh thành, bọn người mũ ni, kẻ sĩ áo thâm như mây kéo tới. Cửa ngoài mở hội Thái hòa triệt bỏ những đồ vật quí. Sửa soạn tiệc chay, tuyên đọc lời kinh Vô thượng thức tỉnh chúng sinh. Tín nữ Diệu Tính, cháu gọi Thái úy bằng cậu, là người dung mạo xinh tươi, tư chất hiền thục, kết thành đôi lứa với xử sĩ Sùng Chân, tên húy là Trai. Vợ chồng hòa hợp, sinh được con trai đầu lòng theo đạo học Nho, tên húy là Hai, tên chữ là Tổ Bành và hai con trai theo học đạo Phật, một gọi là Sư Viên Giác, pháp hiệu là Pháp Trí, một gọi là Sư Minh Ngộ, Pháp hiệu là Pháp Ân. Đầu niên hiệu là Thần Vũ vâng chiếu nhà vua, rút họ tên ra khỏi công điền, rồi mở trang viên ở đấy mà trụ trì. Thế là bà nhằm phía Đông núi, dựng riêng một ngôi chùa, gọi là chùa Thánh Ân, trong đặt Phật vàng và các vị bồ tát ở hai bên, trải qua bốn năm, công việc mới hoàn thành.

Ôi! Sinh thành và nuôi nấng ta, có ai bằng vua và cha, cho nên phải kính trọng ; dắt dẫn và che chở ta, còn gì là phúc huệ, cho nên phải tin theo. Đem phúc to này, chúc vận lớn ấy. Nghiệp trời dằng dặc dài lâu; vận nước đời đời thịnh vượng. Nhân duyên thêm mãi; phúc lộc càng tăng.

Thế rồi Thái úy bảo tôi rằng:

- Xây dựng lâu ngày, cõi báu đã xong, nếu không khắc bia ghi lại thì con cháu mai sau không biết tìm đâu để noi theo dấu vết, nên phải dùng văn trình bày rõ ráng công việc đã làm, để cho dù nhân vật có đổi dời thì tiếng lành vẫn truyền mãi.

Tôi lúc này đang làm việc dưới cửa quân của Thái úy. Tự nghĩ mình tầm thường kém cỏi, nhưng chối mãi không được, đành mạo muội nêu lên cái phẩm chất trong sáng, thơm tho của người khác để khắc vào bia đá.

Lời  minh rằng:

Tam giới luân hồi,

Tứ sinh luẩn quẩn.

Vọng niệm sinh ra,

Sắc tâm nghiêng ngửa.

Buông lỏng lòng gian tham.

Vấn vương niêm ái, dục.

Há dễ tự yên đâu,

Không sao thỏa được.

Cùng tột thay chân như,

Thể lượng là thái hư.

Linh diệu khôn lường,

Biến hóa vô cùng.

[Như] giọt mưa nhuần đượm,

[Làm cho] cây cỏ mùa xuân nẩy mầm như thái.

Cờ pháp dựng lên,

Lưới tà tan hết.

Nay có Lý công,

Theo được mẫu mực của người xưa.

Trị dân đã yên,

Cầm quân là thắng giặc.

Danh lừng tới Trung hạ,

Tiếng nức tới phương xa.

Lại sùng thượng tông giáo,

Vun trồng phúc đức.

Cao vòi vọi như trái núi vút lên từng không,

Bậc hiền tể trị nước, mở rộng công đức của mình.

Điện tháp nguy nga như non cao chót vót,

Cõi báu oai hùng với vàng son rực rõ.

Chúc nhà vua phúc lành dồn tới,

Ngôi báu lâu dài, đời đời thịnh vượng.

Tuy hang sâu cồn rậm đổi dời, nhưng dấu vết khôn cùng,

Tấm bia khắc bài minh này sừng sững mãi trong khói lam.

Dịch thơ

Luân hồi tam giới,

Luẩn quẩn tứ sinh.

Sắc tâm nghiêng ngửa,

Vọng niệm sinh thành.

Tham tà buông lỏng,

Ái dục ràng quanh.

Dễ đâu yên được,

Không sao thỏa tình.

Cùng tột chân như!

Thể lượng Thái hư.

Khôn lường linh diệu,

Biến hóa có thừa.

Mưa nhuần thấm đượm,

Cây cỏ sởn sơ.

Giương cao cờ phướn,

Dẹp hết tà nhơ.

Lý công nước Việt,

Noi dấu tiền nhân.

Cầm quân tất thắng,

Trị nước yên dân.

Danh lừng Trung hạ,

Tiếng nức xa gần.

Vun trồng phúc đức,

Đạo phật sùng tin.

Núi cao chót vót chừ, chọc thủng từng không.

Hiền tể trị nước chừ, lớn mãi huân công!

Nguy nga tột bực chừ, điện tháp mênh mông!

Vàng son rực rỡ chừ, cõi báu oai hùng!

Dồn dập phúc lành chừ, chúc đấng thần trung.

Ngôi báu lâu dài chừ, thịnh vượng nối dòng!

Cồn khe đổi đời chừ, dấu vết khôn cùng.

Bài minh sừng sững chừ, giữa chốn núi sông!

                           NGUYỄN ĐỨC VÂN-ĐỖ VĂN HỶ

 

 

Chúng ta có thể hình dung được quy mô bề thế của chùa Linh Xứng - một trung tâm Phật giáo lớn của xứ Thanh thời Lý được xây dựng ở ngọn núi sát kề sông Đại Lại (tức sông Lèn, nhánh sông Mã, còn gọi là sông Lèn, hay sông Nga...) - con đường thủy quan trọng trong nghìn năm phong kiến.

Từ phía nam tới, thuyền ghe qua sông Mã, sông Lèn, qua chùa Linh Xứng rồi vào sông Hoạt, sông Tống và kênh nhà Tiền Lê để đến cửa Thần Phù và ra Thăng Long.

Vì vậy, mà từ Tiền Lê và Lý trở đi, mỗi lần ra Bắc để cống nạp cho Đại Việt, các nước nhỏ khác ở phương Nam đều phải đi qua đây, như văn bia nói là đều phải “quỳ gối ngắm xem” hoặc “cúi đầu dập trán” trước ngôi chùa Linh Xứng nổi tiếng khắp miền gần, xa vậy.

Rõ ràng, qua việc xây dựng chùa Linh Xứng, Lý Thường Kiệt muốn chứng tỏ cho các nước lân bang ở phía Nam phải kính phục trước một công trình kiến trúc Phật giáo nguy nga, bề thế ở vùng đất phên giậu phía nam của Đại Việt.

Dấu ấn nghìn năm

Có thể nói, dấu ấn của Lý Thường Kiệt - nhân vật lịch sử kiệt suất, vĩ đại của dân tộc trong 19 năm ở trấn Thanh Hóa quả là rất đậm nét. Trong 19 năm ấy (1082-1101), với sự có mặt của Lý Thường Kiệt, sự giao thoa văn hóa giữa Thăng Long kinh kỳ với xứ Thanh phên giậu càng có điều kiện để phát triển một cách thuận lợi.

 

Thái úy trong thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị. Những việc đổi dời phong tục, nào có quản công. Làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ quân chúng, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng.

Với những tài liệu sử sách và bia ký còn lại, chúng ta cũng được biết nhiều nhân vật tên tuổi như thái phó Lưu Khánh Đàm và các vị đại sư như Sùng Tín, Đạo Dung và nhiều người khác đã mang sắc thái văn hóa Thăng Long vào xứ Thanh và giúp Lý Thường Kiệt mở mang khai trí những vùng đất còn “mộc mạc”, “thuần phác” thành những nơi rực rỡ đền đài, chùa phật, v.v…

Và ngược lại khi Lý Thường Kiệt trở về triều (1102), ông lại tuyển chọn nhiều nhân tài xứ Thanh ra Thăng Long để phục vụ triều đình.

Sau khi rời xứ Thanh chỉ vài năm, đến năm 1105, vị anh hùng kiệt xuất Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 86 tuổi.

Ngay sau khi ông qua đời, miếng đất mà lúc sinh thời ông tự chọn để làm Thọ thân đường ở ngay núi Ngưỡng Sơn (nơi kề giáp với chỗ ngôi chùa Linh Xứng mà ông xây dựng) đã trở thành một ngôi đền quốc tế để thờ ông mãi mãi.

Và cho đến hôm nay, nơi đền thiêng vẫn khói hương nghi ngút. Đã qua rồi gần mười thế kỷ, nhưng hình ảnh và công lao của Lý Thường Kiệt vẫn còn sống mãi trong tâm thức, tình cảm của người dân xứ Thanh.

Và núi Ngưỡng Sơn với chùa Linh Xứng và đền Lý Thường Kiệt - nơi đã từng có sự giao thoa điển hình giữa văn hóa Thăng Long với văn hóa xứ Thanh hồi thế kỷ XI chính là một quần thể di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật rất có giá trị mà Nhà nước xếp hạng.

Rồi đây, với sự hỗ trợ thiết thực của Nhà nước và Ban kỷ niệm nghìn năm Thăng Long cùng sự cố gắng nỗ lực của Thanh Hóa, khu di tích thắng cảnh này chắc chắn sẽ được phục dựng lại như xưa để tỏ lòng tri ân thành kính đối với anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. 

                                                                              Phạm Tấn  (TPO)

 

 

 

Thêm bình luận mới