Phật dạy cách sống chung với người khó chịu

Phật dạy cách sống chung với người khó chịu

Tất cả những người khó chịu dù bất cứ hình thức nào đều do sự chấp ngã thân tâm này là tôi, là ta nên thấy thân này là thật, thấy tâm suy tư nghĩ tưởng cũng là mình nên từ đó họ đấu tranh giành giựt, chiếm đoạt dẫn đến tàn sát, giết hại lẫn nhau không thương tiếc.

Trong cuộc sống ai cũng có thể đã từng gặp phải những chuyện đau thương, khốn đốn dẫn đến bực bội, khó chịu, phiền muộn, khổ đau. Những người khó chịu họ luôn muốn làm mọi chuyện trở nên căng thẳng để tạo ra sự hiểu lầm hoặc mối thù hiềm bằng nhiều hình thức khác nhau. Người khó chịu là người hay kiếm chuyện gây gổ làm người khác luôn bực tức và phiền não, bức bách.
Sự đụng chạm giữa con cái đối với cha mẹ, giữa vợ chồng, anh em, bạn bè và đồng nghiệp khiến chúng ta đau buồn, do không thể kiềm chế bản thân nên ta dễ dàng trút những phiền muộn lên người khác. Khi trong ta trỗi dậy những cảm xúc khổ đau thì mình dễ dàng bươi móc lỗi của người và công khai chỉ trích những sai phạm của họ trước mặt bàn dân thiên hạ.
Trong cuộc sống chúng ta ai cũng có thể đóng vai trò của một người khó chịu, bởi đã làm người thì chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, sai lầm dễ khiến người khác phiền muộn, đau khổ. Bây giờ, chúng ta sẽ liệt kê ra một vài loại người khó chịu.
Có một loại người rất khó chịu vì cuồng tín, họ tin vào đấng bề trên nên có thể giết người vô tội vạ vì cho rằng chết vì đạo sẽ được lên thiên đàng hưởng phước báo tối cao. Phụ nữ đối với họ chỉ là vật phụ thuộc có nhiệm vụ sinh con đẻ cái và đáp ứng nhu cầu sung sướng cho họ. Dạng người khó chịu này không chấp nhận ai mà chỉ tôn thờ đấng bề trên và muốn mọi người phải tin theo họ. Nếu nắm quyền hành trong tay họ không cho ta lựa chọn nào khác mà chỉ có thể theo thì sống, không theo thì chết.
Một loại người nữa cho rằng chết là hết, không có nhân quả nghiệp báo nên khi sống họ mặc tình tạo tác gây ra nhiều nỗi khổ, niềm đau vì quan niệm mọi thứ sẽ trở về cát bụi. Tuy nhiên, dạng người khó chịu này nếu có ý thức một chút sẽ là những công thần dấn thân hy sinh cho sự nghiệp chung và sống trung thành với lý tưởng đó. Người khó chịu theo dạng này nếu không có hiểu biết chân chính sẽ không chấp nhận học thuyết sống chết luân hồi tùy theo nghiệp báo tốt xấu đã gieo. Họ cho rằng tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại nên dẫn đến nhiều sai lầm đáng trách làm tổn hại cho nhiều người.
Một loại người khó chịu khác suốt đời mong muốn, đòi hỏi ai cũng phải là một người hoàn hảo, không sai phạm nên họ rất khó chịu khi thấy người khác phạm phải lỗi lầm. Người khó chịu theo dạng này luôn muốn mọi người cùng theo một khuôn mẫu với mình, ai làm khác đi thì lại khó chịu. Họ không hiểu quy luật duyên sinh, nhân quả và sự huân tập của mỗi người khác nhau nên có sự sai biệt. Đó là sự chấp trước chỉ thấy mình là người tốt còn mọi người đều xấu nên cuối cùng họ bất mãn và rơi vào tuyệt vọng, không muốn chung sống với mọi người.
Một loại người khó chịu khác vì đang gặp hoàn cảnh bất hạnh không tìm ra lối thoát như bệnh nan y, gia đình đổ vỡ, vợ chồng phản bội, con cái chết chóc, sự nghiệp trắng tay… Những người khó chịu này là hạng người đang bị dính mắc bởi phiền não tham-sân-si vì chấp thân tâm này làm ngã nên muốn chiếm hữu mọi thứ, chẳng hạn như những ông vua thời phong kiến. Đó là nói về người khó chịu thời xa xưa.
Người khó chịu thời nay còn tinh vi hơn nữa như lãnh tụ các cường quốc đã lợi dụng khoa học tiến bộ để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên của các nước chậm tiến bộ và lạc hậu. Họ thường tự xưng mình là người trị vì thiên hạ, vì không chịu khuất phục họ, theo họ hoặc có thái độ không bằng lòng với họ thì họ tìm cách triệt buộc ngay. Lịch sử thế giới loài người đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Thế giới ngày hôm nay sở dĩ chiến tranh binh đao tàn sát, giết hại lẫn nhau là bởi do những người khó chịu này.
Người không có hiểu biết chân chính, không tin tâm mình là Phật, không tin mình là chủ nhân ông của bao điều họa phúc họ sống để tham lam, ích kỷ, giành giựt, chiếm đoạt để có được nhiều hơn. Bất kể mọi người khổ đau như thế nào họ không cần biết, họ chỉ biết rằng họ được ăn trên ngồi trước và nắm quyền sinh sát trong tay. Họ cho rằng đó là ân sủng thượng đế dành cho họ. Cuộc sống của họ luôn tạo ra nỗi khổ, niềm đau cho mọi người vì quan niệm sai lầm có một thần linh, thượng đế ban phước giáng họa, sắp đặt mọi việc.
Nắm lấy, kéo về mình, cất giữ, chất chứa là một thói quen xấu do ngu si chấp ngã thấy mình là trung tâm của vũ trụ. Con người ngay từ nhỏ khi mới chập chững biết bò đã luôn cố trườn tới để nắm lấy những đồ vật trước mắt. Nếu nắm lấy được thì bỏ vào miệng không phân biệt sạch dơ. Lớn lên, chúng ta nắm bắt, chấp giữ và càng khó chịu nhiều hơn khi thấy mình bị thiệt thòi hơn người khác.
Do chấp ngã nên chúng ta cố nắm lấy, bám giữ, tiếc nuối rồi cảm thấy bực bội, khó chịu và nổi tam bành lục tặc để làm người khác đau khổ. Khi cái ta lớn mạnh mà không được hài lòng, vừa ý thì sự thất vọng càng nhiều nên phiền muộn, khổ đau không có ngày thôi dứt.
Chúng ta cần phải hiểu rõ không nắm giữ không có nghĩa là không có gì hết, không có cả một cái chén để ăn cơm. Chúng ta vẫn cầm cái ly để uống nước nhưng chúng ta không dính mắc vào nó, nếu lỡ làm bể cái ly chúng ta vẫn không tiếc rẻ, bực tức hay nổi giận, cáu gắt hoặc mắng chửi, đánh đập người khác.
Chấp là nguồn gốc sinh ra mọi hệ lụy khổ đau cho con người dù đó là chấp thiện. Chúng ta không thể muốn mọi người phải giống như mình, càng không thể dùng áp lực để buộc họ phải thay đổi. Cách duy nhất chúng ta có thể giúp họ là hãy nhìn lại chính mình, nhận thức rõ năng lực bản thân để có sự cảm thông, bao dung và tha thứ mà thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau.
Chúng ta hãy cảm thông cho người khó chịu vì họ không làm chủ được bản thân nên đang đau khổ tột cùng. Vào những lúc như thế họ sẽ trút đổ mọi bực tức, giận hờn lên người khác. Thậm chí, họ có thể thượng chân hạ cẳng mà tạo ra nỗi khổ, niềm đau cho chính gia đình họ.
Người khó chịu không biết cách kiềm chế nên họ lại thêm dầu vào lửa khiến cho sự việc càng thêm oan trái. Họ đang trong cơn tuyệt vọng nên rất dễ giận cá chém thớt và rất cần có sự giúp đỡ. Nếu quán chiếu sâu sắc chúng ta sẽ thấy họ đang bế tắc trong cơn đau khổ tột cùng không có lối thoát nên ta càng phải thương xót họ nhiều hơn. Trong lúc này, dù họ có cố gắng kiềm chế bằng nhiều cách thì lời nói của họ khi phát ra cũng giống như dao bén cứa vào từng thớ thịt của người khác.
Nếu chúng ta phải đối diện với người khó chịu thường xuyên mà không khuyên được họ thì nên tìm cách tránh xa họ vì “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Nhưng vì duyên sự mà phải gặp họ, phải tiếp xúc với họ thì ta phải làm sao? Ta phải học cách chấp nhận để đương đầu với hoàn cảnh không như ý này.
Chúng ta sẽ thấy mình đang rơi vào hoàn cảnh éo le, ta sẽ bị phê bình, chỉ trích nặng lời bởi người khó chịu kia, ngay lúc này nếu ta không tỉnh giác thì mọi thứ sẽ đổ vỡ. Nhờ tỉnh giác trong từng phút giây chúng ta biết mình đang đối diện với lửa sân hận nên ta bình tĩnh, an nhiên tìm ra lối thoát.
Chúng ta dùng tuệ giác của Thế tôn để soi sáng lại chính mình mà có sự cảm thông và tha thứ cho họ. Chúng ta hãy quán sát thân này nhân duyên hòa hợp giả có nên không có thật. Cái gì là ta, là của ta, ta không chấp thân tâm này làm ngã thì chẳng có thứ gì làm cho ta lay động mà phiền muộn, khổ đau.
Khi đối diện với người khó chịu mình phải biết cách lắng nghe để tìm ra nguyên nhân giúp họ. Họ đang nói gì, đang muốn gì, đang tiếc nuối về quá khứ hay mơ mộng đến tương lai mà đánh mất mình trong hiện tại? Vào những lúc căng thẳng như thế chúng ta phải dùng trí tuệ thấy biết đúng như thật để lắng nghe tâm tư của họ, phải nhìn vào mặt tích cực của họ. Họ đang muốn giải tỏa hết mọi áp lực từ bên ngoài đang đè nặng lên tâm thức họ. Bằng sự cảm thông, bao dung và độ lượng, chúng ta cần phải giúp họ quay trở về với thực tại, đừng vì tình cảm sâu nặng mà tự đánh mất chính mình. Đây cũng là một cơ hội tốt để ta nhận thức rõ thành quả tu tập từ bấy lâu nay bằng tuệ giác của Như Lai. Khi nghĩ tốt cho người ta sẽ bớt tâm ganh ghét, tật đố mà không chỉ trích quá đáng, sai lầm  về họ. 
Ngày xưa, một vị Tổ sư đã dùng phương tiện thiện xảo để chỉ dạy cho đệ tử của mình. Ông lấy một ly nhỏ đầy muối rồi chế nước vào khuấy đều bảo người đệ tử uống. Người đệ tử vừa nhấp thử ngụm nước đã nhăn mặt nói nước mặn đắng, không thể uống được. Vị thầy bình thản lấy thêm một nắm muối khác cũng bằng với số muối trước bỏ vào hồ nước khuấy đều rồi bảo người đệ tử nếm thử. Lần này, người đệ tử nếm thử mà không cảm thấy khó chịu vì sự mặn đắng nữa.
Bấy giờ, vị thầy mới từ tốn nói tiếp: “Sự đau khổ tột cùng giống như người uống đầy ly nước muối mặn. Tuy nhiên, nếu ta biết khôn ngoan, sáng suốt hành trì theo lời Phật dạy, biết giữ giới, thiền định và từ bi thì cũng giống như ta dùng lượng muối đó pha vào một hồ nước. Vị mặn của muối bị nước hòa tan nên ta vẫn uống bình thường mà không cảm thấy khó chịu bởi vị mặn đắng của nó. Chính vì vậy, mỗi khi gặp điều không được hài lòng như ý chúng ta hãy mở rộng lòng ra bằng tâm từ bi và trí tuệ để soi sáng lại chính mình thì mọi việc phải quấy, tốt xấu, đúng sai, được mất, hơn thua đều có thể tan hòa vào hư không.”
Nói tóm lại, tất cả những người khó chịu dù bất cứ hình thức nào đều do sự chấp ngã thân tâm này là tôi, là ta nên thấy thân này là thật, thấy tâm suy tư nghĩ tưởng cũng là mình nên từ đó họ đấu tranh giành giựt, chiếm đoạt dẫn đến tàn sát, giết hại lẫn nhau không thương tiếc.
Theo lời Phật dạy, có một phương pháp giúp người khó chịu chuyển hóa được. Vì sao chúng ta hay làm người khó chịu? Vì chúng ta không có lòng từ bi rộng lớn. “Từ” là ban vui, “bi” là cứu khổ. Muốn chuyển hóa được tính khó chịu ta phải quán tình thương và biết cảm thông, tha thứ. Khi thương yêu, kính mến ai ta sẽ không bao giờ khó chịu với họ. Tình thương yêu chân thật thường đi đôi với tâm từ bi, tức là ban vui và cứu khổ.
Khi có được một trái tim thương yêu và hiểu biết bằng tình người trong cuộc sống thì tâm ta sẽ dễ dàng trải rộng ra để giúp đỡ người khác và sẽ không buồn giận khi người đó vô ơn. Mỗi lần thấy một người khó chịu ta tự cảm thấy mình cần phải làm điều gì đó để giúp người ấy có đủ năng lượng thiết lập lại bình yên, hạnh phúc.
Một người nọ thấy con bò cạp sắp chết đuối trong một vũng nước thì vì muốn cứu nó nên nhanh nhẹn đưa tay ra vớt và đặt nó vào chỗ an toàn, nhưng con bò cạp liền chích ông ta một phát đau điếng. Tuy nhiên, vì muốn qua đường nên nó đi tiếp và cuối cùng lại lọt vào vũng nước khác. Lần này, thấy nó sắp chết đuối ông lại vớt nó lên và cũng bị nó chích như lần trước. Tay ông lúc này sưng vù và đau điếng.
Một người khác chứng kiến cảnh tượng đó từ đầu đến cuối bèn nói: “Tại sao ông lại dại khờ đến thế? Ông thật là điên rồ khi cứu vớt một con bò cạp chẳng biết ơn nghĩa là gì.” Người đàn ông vui vẻ trả lời: “Thưa ông, tôi không thể nhìn thấy cảnh con bò cạp bị chết đuối. Ông biết đó, thói quen và bản tính của con bò cạp là chích khi có người đụng vào. Đó là phản ứng tự vệ của nó, nó chỉ sống theo tập khí, thói quen mà không có sự quán chiếu. Còn thói quen của tôi là sẵn sàng cứu giúp khi có nhân duyên, tôi thà chịu đau một chút mà cứu được con bò cạp.”
Trong trường hợp này, nếu suy luận chúng ta sẽ thấy người đàn ông đó có thể lấy một cành cây để vớt con bò cạp thì sẽ không bị chích. Nhưng vì ở đây ông ta nghĩ cứu một con bò cạp trong cơn hoạn nạn là điều cần thiết, hậu quả như thế nào ông sẽ tính sau.
Câu chuyện này ngụ ý nói lên tâm từ bi rộng lớn của người đàn ông nọ khi muốn cứu một sinh mạng khác dù đó chỉ là một con vật thấp kém. Điều này cho chúng ta thấy người có tấm lòng rộng mở khi giúp người-vật trong cơn nguy khốn sẽ không có sự tính toán vì ta, người, chúng sinh. Đức tính của ông ta là luôn giúp đỡ, sẻ chia bằng tình người trong cuộc sống với trái tim thương yêu và hiểu biết.
Do đó, khi có được tình thương yêu rộng lớn thúc đẩy chúng ta sẵn sàng giúp đỡ người khác bất kể màu da, tôn giáo, chủng tộc. Nếu chúng ta ai cũng biết nuôi dưỡng tình thương yêu chân thật bằng sự quán chiếu hằng ngày ta sẽ thấy người và vật không có ai là kẻ thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Nhờ vậy, khi sống chung với người khó chịu ta vẫn bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Thêm bình luận mới