Thân 5 ấm không hòa hợp khổ

Thân 5 ấm không hòa hợp khổ

Phật nói thân này biến hoại vô thường cho nên khổ, chớ không có cái vui lâu dài. Thật ra, Phật dạy khổ không có nghĩa để chúng ta ôm ấp nỗi khổ đó suốt đời. Phật nói khổ để mình biết rõ nguyên nhân để tìm cách chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc

Điều thứ tám là ngũ ấm xí thạnh khổ, tức sự khổ về 5 ấm hưng thịnh. 5 ấm là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc ấm thuộc về thân, 4 ấm kia thuộc về tâm hay còn gọi là phần tinh thần.
Điều thứ tám này bao quát 7 món khổ trước: thân thì sanh-già-bệnh-chết, đói, khát, nóng, lạnh, vất vả nhọc nhằn; tâm thì buồn giận, thương ghét, phải quấu, tốt xấu, đúng sai, trăm điều phiền lụy.
Khổ do thân 5 ấm này chung hợp lại, vì sự chung hợp này được kết nối bởi các nhân duyên có khuynh hướng trái nghịch, bên trong luôn mâu thuẫn, chống trái nhau, vì vậy mà khổ. Nhiều người còn trẻ nghe nói thân này khổ không tin vì họ nghĩ đến tương lai hạnh phúc, như vậy làm sao khổ được. Có người nói rằng khi nào xúc chạm phải những điều trái ý mới khổ, nếu xúc chạm những điều như ý thì đâu có khổ. 
Phật nói thân này là gốc của khổ. Tại sao? Tại vì thân này vô thường đổi thay nên rồi ai cũng sẽ già, bệnh và cuối cùng là chết. Quý Phật tử khi 30 tuổi ít ai nhớ rằng mình sẽ già chết mà cứ nhớ hồi còn mười tám, hai mươi.
Phật nói thân này biến hoại vô thường cho nên khổ, chớ không có cái vui lâu dài. Thật ra, Phật dạy khổ không có nghĩa để chúng ta ôm ấp nỗi khổ đó suốt đời. Phật nói khổ để mình biết rõ nguyên nhân để tìm cách chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc.
Khổ không phải tự dưng mà có, chính Tập đế là những cội gốc của phiền não, là tập nhân tạo thành nên quả khổ. Cội gốc phiền não đó còn được gọi là căn bản phiền não gồm 6 thứ tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. 6 thứ này là nhân tạo thành quả khổ cho con người, nếu ai diệt hết 6 thứ đó sẽ hết quả khổ.
Cho đến ngã mạn, tức thấy ta cao, ta quan trọng, do thấy như thế nên khi sắp mất rất khổ. Bây giờ nếu thấy ta là hư giả, tạm bợ thì có phách lối với ai không, thân này sắp hoại có khổ không? Sở dĩ chúng ta khinh người là vì thấy mình cao quí quá, quan trọng quá. Bây giờ thấy mình là tạm bợ, giả dối thì đâu có gì quan trọng, không trọng mình nên đâu có khinh người. Rõ ràng, chỉ cần chúng ta có một chút trí tuệ thấy đúng như thật thì khổ về sinh-già-bệnh-chết sẽ từ từ giảm bớt. 
Nếu lý giải bằng trí tuệ thì thân này thật không có gì quan trọng hết, chẳng qua chỉ là một nhóm nhân duyên tụ hội lại chớ có gì đâu. Nhiều người thường vỗ ngực xưng “tôi”, nhưng hỏi cái gì là tôi thì trả lời không chạy. Nếu da thịt là tôi thì khi nó bệnh bác sĩ mổ bỏ đi thì cái tôi đó thành gì? Chỉ cần da thịt có vết thương hôi thối thì lúc đó mình quí hay muốn bỏ? Khi còn lành lặn ta thấy quí, khi nó hư hoại xem không ra gì, bỏ đi không chút thương tiếc. Rõ ràng, “cái ta” không phải những gì mình đang mang đây. 
Lúc nào mình cũng thấy cái ngã là quí, là thật nên khổ vì nó. Nếu chúng ta biết cái ngã không thật, không quí thì bỏ nó một cách dễ dàng, không đau khổ tí nào hết. Còn ngã mạn vì thân là còn đau khổ, hết ngã mạn mới hết đau khổ. Đó là năm ấm xí thạnh khổ.
Con người vì lòng ham muốn quá mức như giếng sâu không đáy, khi chưa được thì muốn cho bằng được, khi được rồi thì lại sanh nhàm chám muốn tìm thứ khác. Người biết tiết chế được lòng tham thì cuộc sống an nhàn và thảnh thơi, không bị cuộc sống ràng buộc.
Từ nghiệp nhân ngu si, mê muội mà nhân loại đã tạo ra từ vô thủy kiếp đến nay, nếu không có duyên và may mắn gặp được thầy lành bạn tốt thì cuộc đời chúng ta có thể rơi vào ngõ cụt, đó là một sự thật.
Do si mê, tham đắm mà chấp thân-tâm làm ngã, từ đó muốn chiếm hữu về mình nên suy nghĩ, hành động sai lầm, thấy có ta, người và muôn loài, muôn vật nên bám chấp vào đó. Ý là đầu dây mối nhợ của phiền não, nó thường hay suy tư, nghĩ ngợi nên gọi là ý nghĩ; nó hay nhớ nghĩ về quá khứ hoặc hiện tại gọi là ý niệm; nó hay tưởng tượng, mơ mộng hão huyền nên gọi là ý tưởng và nó có công năng phân biệt, hiểu biết nên gọi là ý thức.
Do phân biệt, hiểu biết sai lầm nên ý thức không rõ được thực tướng của các pháp là vô ngã, không có chủ thể cố định, từ đó sinh ra thấy biết sai lầm mà chấp ta, người, chúng sinh. Sự bám víu vào “cái ta” rồi đến “cái của ta” như vợ ta, con ta, nhà ta, tài sản của ta, đất nước của ta. Dưới cái nhìn của người thế gian như thế đâu có gì sai quấy, thế gian này nếu không bám víu vào “cái ta” và “của ta” thì con người sẽ sống ra sao?
Vì cuộc sống này như vậy nên chúng ta không thể làm khác được, còn sự sống là còn có tham muốn, nhưng ta phải tham muốn thế nào cho phải lẽ. Ở đây, Phật vì lòng từ bi chỉ cho ta biết thân-tâm này không thật ngã để mọi người bớt luyến ái, chấp trước mà làm khổ cho nhau. Thật ra, đã làm người khó có ai muốn ít biết đủ, chỉ một bề mong cầu được nhiều mà không bao giờ nhàm chán. Tham muốn càng nhiều thì tội lỗi càng phát sinh, càng gây ân oán, hận thù cho nhau không có ngày thôi dứt.
Do vô minh mà sinh ra vọng động. Do có vọng động mà sinh ra vọng thức. Do có vọng thức mà sinh ra phân biệt có đủ thứ ta, người, chúng sinh. Do có sự phân biệt ta, người mà sinh ra xúc chạm. Do có sự xúc chạm mà sinh ra cảm thọ. Do có cảm thọ mà sinh ra tham ái, luyến tiếc và từ đó bám víu, dính mắc vào sự hiện hữu của nó nên sống chết, khổ não, ưu sầu, buồn lo đủ thứ.
Chữ “sân” trong Hán cổ biểu hiện một môi trường sống khi con người cảm thấy không hài lòng vừa ý, bực tức, xung đột, bất bình dẫn đến mâu thuẫn đối kháng gây hận thù và làm khổ đau cho nhau. Sự tức giận của con người có nhiều cấp độ khác nhau như nói lời mỉa mai, cay cú, hằn học, mắng chửi, giận dữ, quát tháo, hờn mát, oán thù, đánh đập, chửi bới, hù dọa, triệt tiêu và hủy diệt nhau.
Sân hận là âm Hán Việt, là từ ngữ chỉ chung cho loại phiền não có tính cách bốc lửa. Sân có nghĩa là nóng giận, mỗi khi có sự việc bất bình không được hài lòng, vừa ý là nó bộc phát mạnh ra bên ngoài. Hận có nghĩa là hờn mát âm ỉ sôi sục bên trong, nói cho đủ là giận hờn.
Một khi con người sân hận cộng với giận hờn mà không đủ khả năng hóa giải thì lâu ngày trở thành thù ghét, do đó lúc nào cũng muốn tìm cách trả thù hay rửa hận. Giận là lời nói tắt của từ nóng giận, hờn là từ nói tắt của chữ hờn mát, gọp chung lại là giận hờn.
Sân hận có nghĩa là giận hờn. Khi chúng ta giận hờn ai đó mà cứ ghim mãi trong lòng thì lâu ngày trở nên thù hằn, ghét bỏ rồi tìm cách trả thù thích đáng, khi có cơ hội là ra tay liền. Giận hờn là một thói quen xấu có tính cách hại người, hại vật, dù nặng hay nhẹ thì chắc chắn cũng làm tổn hại đến những người xung quanh. Không phải ai khi đã thức tỉnh thì chỉ một lúc là các tập khí, thói quen xấu dứt trừ được hết. Kết quả còn tùy theo sự huân tập tật xấu nhiều hay ít của mỗi người.
Trong khi đó, Phật dạy thân này do bốn chất đất-nước-gió-lửa hòa hợp lại mà thành nên không có gì là thực thể cố định cả. Cái được gọi là ta, là của ta cũng không thật, ai chấp vào đó thì sinh ra luyến ái, bám víu mà lầm tưởng là thật ta nên mới chấp ngã, từ đó sinh ra chiếm hữu. Ai nghĩ và làm như vậy tức là người vô minh nên lúc nào cũng sống trong đau khổ, lầm mê.
Tâm thì suy tư nghĩ tưởng, hết nhớ chuyện này đến nhớ chuyện kia không lúc nào dừng nghĩ, khi thì nghĩ tốt, lúc thì nghĩ xấu, có khi thì hiền như nai tơ, có lúc thì lại dữ như cọp sói. Người có chút ít công phu do kiên trì, bền bỉ, biết cách buông xả vọng niệm nên có khi ngưng bặt mọi suy nghĩ.
Từ cái thấy “thân kiến” là cái thấy sai lầm về thân, tức chấp vào sự hiện hữu của cơ thể con người là tôi, là của tôi nên từ đó bắt đầu chiếm hữu. Ai đụng đến “cái tôi” này thì có sự phản kháng mãnh liệt, do đó dấy khởi phiền não tham-sân-si mà dẫn đến tranh đấu giành phần thắng lợi về cho riêng mình để loại trừ lẫn nhau.
Quan niệm về thân kiến này sẽ trường tồn mãi mãi và chỉ có hai con đường để ta chọn lựa, một là lên thiên đàng hưởng phước báo tối cao, hai là xuống địa ngục chịu khổ đau lâu dài. Đó là cái thấy sai lầm do không có sự thể nghiệm thực tế, không có sự trải nghiệm bản thân mà làm cho con người mất hết quyền làm chủ chính mình trong cuộc sống hiện tại.
“Biên kiến” là cái thấy một bên, nghĩa là tin có một linh hồn bất tử sống đời không thay đổi, tức là thường còn mãi mãi cùng quan niệm chết là hết, tức là không còn gì nữa, chỉ có một đời sống hiện tại mà thôi. Linh hồn bất tử là cái hồn sáng không bao giờ mất, nói như vậy có phù hợp với chân lý hay không?
Thường thì con người thế gian lấy bản ngã làm tâm điểm, nhân danh đấng thần linh thượng đế để tạo ra sự bất công và muốn chiếm hữu nên đã gây ra nhiều tội lỗi cho muôn loài vật. Tất cả những điều này là do cái thấy biết sai lầm của một số người thế gian, họ lạm dụng sự thiếu hiểu biết của nhân sinh mà áp đặt số mệnh để con người phải chấp nhận phục tùng một cách mù quáng như một tín đồ mà không có quyền góp ý xây dựng trên tinh thần yêu thương đùm bọc, giúp đỡ sẻ chia để cùng nhau sống với trái tim hiểu biết.
Ý thức được khổ đau do sự si mê chấp ngã gây ra mà con người đành lòng nhẫn tâm giết hại lẫn nhau để bảo tồn cái thân vô thường bại hoại này, chúng ta thử lắng dừng tâm tư một chút để nhìn thấy rõ cuộc đời là một dòng trôi chảy biến thiên không dừng hẳn ở một phút giây nào, không đứng mãi một vị trí nào.
Quan niệm cố giữ và chiếm hữu là nguyên nhân của sự thấy biết sai lầm do sự si mê chấp ngã mà ra. Thân này rồi cũng phải già nua mà chúng ta muốn trẻ mãi không già, thân này bệnh hoạn đau nhức mà chúng ta muốn sống hoài không bệnh, thân này thở ra mà không còn thở vào thì coi như bị ngủm cù đèo mà chúng ta muốn sống hoài không chết. Một sự thật quá rõ ràng mà ít ai nhìn thấy, chúng ta thử quán chiếu cuộc đời này với những cái có hình tướng coi nó có mãi trường tồn hay không.
Thân này sinh-già-bệnh-chết mà chúng ta muốn nó không già-bệnh-chết làm sao được? Chúng ta thường xuyên quán chiếu về thân như thế và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi có nhân duyên, nhờ vậy những tâm niệm tham-sân-si dần dần rơi rụng bớt theo thời gian cho đến khi ý không còn suy nghĩ xấu nữa mà hay làm các điều thiện lành và không bám víu vào việc làm tốt đó thì thành tựu viên mãn công hạnh Bồ tát.
8 cái khổ trên không phải tự có mà do các thứ bệnh sinh ra là bệnh tham, bệnh sân, bệnh si, bệnh mạn, bệnh nghi, bệnh ác kiến. Riêng bệnh nghi có chia ra hai thứ. Thứ nhất là nghi do phân vân, không quyết đoán điều hay lẽ thật. Cái nghi này làm chướng ngại việc tu. Cái nghi thứ hai trong nhà Thiền thường dùng câu “đa nghi đa ngộ”, nghĩa là nghi nhiều ngộ nhiều. Tại sao? - Vì cái nghi của nhà Thiền là nghi để phăng tìm, do phăng tìm mới sáng lên, còn cứ một bề nghe sao hay vậy, không thắc mắc gì cả thì không bao giờ hiểu thấu đáo được nên mới nói “đa nghi đa ngộ”. Cái nghi này là nghi tốt, giúp cho chúng ta tiến trên con đường tu. 
Cuối cùng là bệnh ác kiến, đây là bệnh rất trầm trọng. Chữ “kiến” là nhận định, chữ “ác” là sai lầm. Khi nhận định và thấy biết sai lầm, ta lại cố chấp nhận định của mình là đúng thì trở thành ác mà gây ra tội lỗi. Vì nhận định sai lầm mà cố chấp vào đó sẽ dẫn đến dám làm những điều tai họa cho nhân loại. Do đó, ác kiến là cái nguy hiểm nhất. Song, ở thế gian lại có nhiều ác kiến. 
Ví dụ, chúng ta nghĩ tu là được vui, được sinh về các cõi lành hoặc được giải thoát nên cứ tu cho mình mà không nghĩ tới những người chung quanh như cha mẹ, anh em…, không cần biết tới mọi chuyện trong sinh hoạt hằng ngày, ai ra sao mặc họ, miễn ta yên ổn tu là được. Nếu có người khuyên bảo, nhắc nhở thì ta liền nổi quạu bảo Ma vương phá không cho tu. Ta nghĩ về mình nhiều quá nên càng tu mọi người chung quanh càng chán mình bởi họ thấy ta ích kỷ. Tu mà để cho người ta phiền hà, khó chịu cũng là cố chấp. Cho nên, ác kiến cũng là một trở ngại trên đường tu của chúng ta. 
Phật gọi 6 thứ bệnh đó là 6 thứ phiền não căn bản, nếu dẹp sạch 6 thứ này ta mới được an vui thật sự. Như vậy, Phật nói khổ không phải để chúng ta chịu khổ mà nói khổ để chúng ta biết cách chuyển hóa hết gốc khổ đau thì được an vui, hạnh phúc.
Chính vì thế mới có đế thứ ba là Diệt đế, nghĩa là diệt sạch hết nhân khổ. Khi hết khổ, Phật nói hết khổ chớ không nói vui. Tại sao? Thường thường chúng ta cứ mắc kẹt trên từ ngữ đối đãi khổ-vui, nhưng sự thật hết khổ là vui rồi, vì cái vui này trong tỉnh giác nên thấy biết đúng như thật.
Chúng ta nên biết khổ vốn không tự có mà do nhân tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến mới có. Nếu những nhân làm cho mình khổ được diệt hết thì chúng ta sẽ an vui, hạnh phúc. Phật dạy ngay nơi thân này sẵn có tánh sáng suốt thanh tịnh mà hằng chiếu soi muôn sự vật, chúng ta muốn tánh sáng suốt thanh tịnh hiển bày thì phải chuyển hóa tâm phiền não tham-sân-si. Chính bản thân mình phải tự gạn lọc những nhân xấu ác gây ra đau khổ, khi chúng ta chuyển hóa hết nhân đau khổ thì tự nhiên được an vui, tự tại. Diệt hết các nhân khổ gọi là Diệt đế, tức hết khổ.
Đạo đế là những phương tiện, những cách thức để chúng ta ứng dụng tiêu diệt các nhân khổ theo lời Phật dạy. Như vậy, bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật rất cụ thể, rất thực tế, không có gì xa rời với thế gian. Đó là vấn đề cần được nêu lên để chúng ta thấy rõ cái gì thực, cái gì hư mà tìm cách gạn lọc và tu tập.
Người học Phật phải thấy rõ điều cốt yếu của đạo Phật là giúp mọi người thoát khỏi khổ đau trong luân hồi sống chết, muốn cứu khổ thì phải chỉ cái khổ cho người ta thấy, kế đó chỉ rõ nhân gây ra đau khổ để tiêu diệt nó. Nhân đau khổ hết thì quả đau khổ cũng hết theo, muốn thế phải có phương pháp cụ thể để ứng dụng một cách thiết thực chớ không phải cầu nguyện suông mà được.
Hiểu sâu sắc quy luật duyên sinh và nhân quả thì con người sẽ hạn chế được rất nhiều nỗi khổ, niềm đau xảy ra cho mình và người khác. Nếu chúng ta bớt tham lam thì không có khổ của sự mong cầu quá đáng, bớt ái ngã thì không có khổ khi xa lìa người thân.
Đức Phật rất thực tế, cụ thể, không viển vông mơ hồ. Chúng ta tu theo Phật không bao giờ tin suông, khi nào xét thấy rõ ràng nhân quả tương ưng ta mới tin và làm theo.
Ví dụ, Phật dạy 8 cái khổ trên là do 6 nhân phiền não căn bản mà có. Thật ra, thân và tâm có mối tương quan mật thiết với nhau, do đó những nỗi khổ ở thân sẽ dẫn đến những nỗi khổ ở tâm và ngược lại, những nỗi khổ ở tâm cũng dẫn đến những nỗi khổ ở thân. Như khi thân đau nhức thì tâm trạng khó chịu, bực bội, dễ sinh nóng giận. Khi tâm âu lo, buồn phiền, căng thẳng thì cơ thể uể oải, mệt mỏi, ăn không ngon, ngủ không yên.
Tuy nhiên, có thể nói đau đớn là những gì khó chịu nơi thân và nỗi khổ là những gì khó chịu nơi tâm, bởi vì có nhiều trường hợp có đau nhưng không khổ, hoặc chỉ khổ chút ít thôi. Điều này còn tùy thuộc vào sự tu tập của mọi người, ai hiểu đạo chỉ đau ở thân chứ không khổ ở tâm.
Như người lớn vô tình bị đứt tay chỉ có đau chứ không có khổ, trẻ em đứt tay thì có cả nỗi khổ lẫn niềm đau. Những vị tu hành có định lực và tuệ giác, có sự quán chiếu thâm sâu thì những nỗi khổ, niềm đau không chi phối được người đó.
Cuộc sống này có rất nhiều nỗi khổ, niềm đau do chúng ta tham ái và chấp ngã mà ra. Càng coi trọng bãn ngã, càng tham muốn nhiều thì nỗi khổ, niềm đau sẽ có cơ hội phát sinh. Nhất là những người có sắc đẹp, hình tướng, dung mạo dễ coi, họ sẽ đau khổ nhiều khi bị người khác coi thường, khinh chê.
Nỗi khổ, niềm đau cũng dễ bị khuếch đại làm tăng thêm sự chấp ngã do cái “tưởng” của con người. “Tưởng” là tri giác, hồi ức, sự nhớ lại những gì mình thấy nghe, hay biết. Ví dụ, một người bệnh không đến nỗi nào nhưng cứ nghĩ mình bị bệnh nan y nên ngày đêm lo sợ khiến ăn không ngon, ngủ không yên, tinh thần mệt mỏi, bệnh tật càng trở nên trầm trọng. Tất cả đều do “tưởng” mà ra. Khi chúng ta biết rõ cuộc đời vui ít khổ nhiều là do lòng tham muốn quá đáng thì sẽ biết cách tiết chế dục vọng bằng phương pháp "muốn ít biết đủ".

Thêm bình luận mới